Rosemary M. Wixom, “Tiến đến Việc Biết Được,” May 2011
Buổi Họp Đặc Biệt CES Fireside dành cho Các Thành Niên Trẻ Tuổi • Ngày 1 tháng Năm năm 2011 • Trường Utah State University
Tôi biết ơn được có mặt nơi đây ở Logan, Utah, tại trường Utah State University. Khi Jack, chồng tôi, và tôi lái xe ngang Hẻm Núi Sardine để đến thung lũng này buổi tối hôm nay, về một số phương diện, tôi cảm thấy như mình đang trở về nhà. Tôi xin được nói cho các em biết tại sao.
Đây Là Nơi mà Tôi Bắt Đầu Tự Mình Biết Được
Cách đây nhiều năm, vào một ngày mùa thu đẹp trời, chúng tôi chất tất cả đồ đạc của mình lên chiếc xe gia đình. Các em thấy đó, tôi và người em sinh đôi của tôi cùng đi học đại học và mẹ của chúng tôi chở chúng tôi đến Logan để chúng tôi có thể theo học ở đây tại trường Utah State này. Chúng tôi đã thấy ảnh chụp khuôn viên đại học tuỵệt đẹp này. Trong một số ảnh có chụp theo góc độ cây cối mọc giống như thế này. Chúng tôi được cho biết là không có gió thổi ở Logan; cây cối mọc theo cách ấy mà thôi. Tuy nhiên, chúng tôi rất phấn khởi. Chúng tôi đã chất đầy lên chiếc xe đó tất cả quần áo, giày dép của mình, cộng thêm thức ăn để cất trong tủ nhà bếp. Đồ đạc nhiều đến nỗi chúng tôi gần như không thể thấy được cửa sổ. Tôi rất lo lắng bồn chồn khi chúng tôi lái xe vào thung lũng này. Tôi gần như không thể chờ đợi được cuộc phiêu lưu trước mắt.
Ở trong khuôn viên đại học này, một người có thể cảm thấy bầu không khí phấn khởi khi các sinh viên dỡ đồ đạc xuống từ xe và mang đồ đạc vào phòng của mình. Đối với em gái của tôi và tôi, đây là lần đầu tiên chúng tôi sống xa nhà, và chúng tôi cảm thấy có đầy khả năng khi chúng tôi treo quần áo vào tủ và sắp xếp căn phòng của mình. Chúng tôi có hai tấm bích chương treo trên tường. Một tấm có ghi: “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê Hô Va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con” (Châm Ngôn 3:5). Anh của chúng tôi cho chúng tôi tấm bích chương kia. Tấm ấy có ghi: “Tôi sẽ không yêu người uống rượu.”
Khi dọn hết đồ từ xe xuống xong, chúng tôi đứng trên lề đường trước Hội Trường Moen ở nơi đây, tay cầm vài món đồ cuối cùng từ băng ghế sau của xe. Chúng tôi đứng đó vẫy tay từ giã mẹ của mình trong khi tay cầm mấy cái lọ đựng trái đào đóng hộp. Rồi, trong khi bà lái xe đi thì chúng tôi nhận ra thực tế. Chúng tôi quay lại nhìn nhau, và với nước mắt chảy dài, chúng tôi nói: “Chúng mình đã làm gì vậy? Chúng mình đã nghĩ gì vậy? Làm thế nào một điều mà chúng ta có lần nghĩ là đầy phiêu lưu mạo hiểm thì giờ đây dường như thật khủng khiếp và đáng sợ?” Tôi đâu biết rằng trong những năm tháng sắp tới ở trong khuôn viên đại học này, tôi sẽ chọn những quyết định mà sẽ quyết định cuộc đời còn lại của mình. Chính nơi đây tôi đã khám phá ra là có niềm tin riêng của mình, và tôi đương đầu với việc bênh vực tín ngưỡng của mình. Tôi quen với những người làm bạn suốt đời với mình. Lời cầu nguyện của tôi trở nên chân thành hơn. Chứng ngôn của tôi bắt đầu tăng trưởng. Tôi biết được rằng việc ủng hộ các tiêu chuẩn đạo đức của mình và giúp cho mình tăng trưởng trong việc học hành và phần thuộc linh chính là một điều lựa chọn của riêng cá nhân.
Tôi thật sự là ai? Qua những năm tháng đó, đôi khi tôi cảm thấy thất bại—và thỉnh thoảng tôi đã nếm mùi hy vọng và thành công. Đó là tiến trình tăng trưởng từ nỗi nhớ nhà—ôi nỗi nhớ nhà khủng khiếp—đến việc tự lập đầy vui vẻ. Giống như Am Môn và các anh em của ông trong Sách Mặc Môn, tôi cũng trải qua “những buồn phiền, …nỗi khổ đau [đồng thời] niềm vui khôn tả” (An Ma 28:8). Bấy giờ tôi nhận thấy rằng tôi cần phải rời căn nhà đầy tiện nghi của mình để tiến triển và học hỏi những bài học này trong cuộc sống. Dĩ nhiên, Thung Lũng Cache này, trường đại học này, khuôn viên đại học này đối với tôi thật là tuyệt mỹ. Vì chính nơi đây tôi bắt đầu dần dần hiểu con người mình, và trong tiến trình này, tôi bắt đầu tiến đến việc biết Đấng Cứu Rỗi. Trong cuộc sống của mình, các em đã tiến đến việc biết được điều gì và các em đã học được điều đó ở đâu?
Đó là đề tài “tiến đến việc biết được” mà tôi muốn nói chuyện với các em buổi tối hôm nay.
Tìm Ra một Nơi Mà Các Em Có Thể Tiến Đến Việc Tự Mình Biết
Khi rời nơi hiện diện của Cha Thiên Thượng và căn nhà đầy tiện nghi của mình trong cuộc sống tiền dương thế để đến thế gian này, chúng ta đến đây sẵn sàng học hỏi và được thử thách. Giờ đây, trên thế gian này, chúng ta có thể thấy mình nói: “Tôi đã làm gì vậy?” Chúng ta ở nơi đây để đi trên một lối đi. Chúng ta sống theo kế hoạch của Cha Thiên Thượng—kế hoạch cứu rỗi, phúc âm trọn vẹn. Và đó chính là kế hoạch hạnh phúc! Joseph Smith nói kế hoạch đó là “một trong các ân tứ tốt nhất của thiên thượng dành cho loài người.”1
Kinh nghiệm hữu diệt này mà chúng ta có lần đã nghĩ rằng sẽ đầy phiêu lưu mạo hiểm thì đôi khi lại có thể khủng khiếp và đáng sợ—và hoàn toàn gay go! Bức màn che ngăn cản không cho chúng ta nhớ điều chúng ta đã từng biết. Giờ đây, chúng ta bước đi bằng đức tin, nhưng chúng ta bước đi và hiểu rằng với sự giúp đỡ của Chúa, chúng ta có thể tiến đến việc biết điều mình đã từng biết. Cha Thiên Thượng yêu thương chúng ta rất nhiều. Chúng ta được tạo dựng với mục đích chính yếu là không những trở lại cùng Ngài mà còn thật sự trở thành giống như Ngài. Giờ đây, chúng ta đã học lại cách chúng ta biết Ngài rõ như thế nào. Brigham Young nói: “Các anh chị em quen thuộc với Thượng Đế Cha Thiên Thượng của mình, … vì tất cả các anh chị em đều đã sống trong nhà của Ngài và ở với Ngài năm này qua năm khác [trong cuộc sống tiền dương thế]; tuy thế, [giờ đây trên thế gian này] các anh chị em tìm cách quen thuộc với Ngài, khi sự thật là, các anh chị em chỉ quên điều mà mình đã từng biết mà thôi.”2
Lúc ấy, chúng ta đã biết Ngài, nhưng chỉ qua nỗ lực của mình, chúng ta mới sẽ tiến đến việc biết Ngài ở đây. Chúng ta không cô đơn một mình tìm kiếm vì Ngài phán: “Ta sẽ ở bên tay mặt các ngươi và ở bên trái các ngươi, và Thánh Linh của ta sẽ ở trong trái tim các ngươi, và các thiên sứ của ta sẽ vây quanh các ngươi để nâng đỡ các ngươi.” (GLGƯ 84:88).
An Ma tiến đến việc biết Đấng Cứu Rỗi và rồi giảng dạy những người khác tại dòng suối Mặc Môn. Ông “đã giảng dạy họ, và đã thuyết giảng cho họ nghe về sự hối cải, sự cứu chuộc và đức tin nơi Chúa” (Mô Si A 18:7). Chính là nơi đó mà dân chúng đã lập giao ước báp têm để “đứng lên làm nhân chứng cho Thượng Đế bất cứ lúc nào, trong bất cứ việc gì, và ở bất cứ nơi đâu … , để [họ] có được cuộc sống vĩnh cửu” (Mô Si A 18:9). Họ tăng trưởng trong đức tin, họ học cách tuân giữ ngày Sa Bát, họ học cách lao nhọc với chính bàn tay của họ để tự nuôi sống và họ “bước đi ngay thẳng trước mặt Thượng Đế, san sẻ cho nhau về vật chất lẫn tinh thần” (Mô Si A 18:29; xin xem các câu 20–29).
Chúng ta đọc tiếp: “Và giờ đây, chuyện rằng, tất cả những sự việc này đều đã được thực hiện tại Mặc Môn, phải, bên dòng suối Mặc Môn, trong khu rừng gần dòng suối Mặc Môn; phải, khu vực Mặc Môn, dòng suối Mặc Môn, khu rừng Mặc Môn,[ôi] những chốn ấy xinh đẹp làm sao dưới mắt những ai đến đó để tìm hiểu về Đấng Cứu Chuộc của họ” (Mô Si A 18:30).
Tại sao trong câu thánh thư này, chúng ta được thu hút đến dòng suối Mặc Môn bởi phong cảnh xung quanh đó? Điều mô tả này làm cho chúng ta cảm thấy như thế nào về khu vực đó—dòng suối Mặc Môn? Có lẽ chúng ta cần phải xem xét phong cảnh xung quanh của mình và phong cảnh này đóng vai trò gì trong công cuộc tìm cách tiến đến việc biết Đấng Cứu Chuộc của chúng ta.
Giờ đây là lúc để làm điều đó. Nếu các em chưa làm như vậy thì bây giờ là lúc để tìm ra khu vực mà các em có thể tiến đến việc biết được Đấng Cứu Chuộc của mình. Dòng suối Mặc Môn của các em ở đâu? Các em thấy khu vực này đẹp đẽ đến mức nào?
Để tìm ra khu vực đẹp đẽ đó, các em có thể muốn tự hỏi mình bốn câu hỏi này.
1. Tiến Đến Việc Biết Đức Thánh Linh
Câu hỏi số 1: Làm thế nào tôi sẽ tiến đến việc biết Đức Thánh Linh?
Một thiếu niên đã có một kinh nghiệm khi cậu ta còn nhỏ, rất nhỏ, chưa đầy ba tuổi. Cậu ta được nhận làm con nuôi trong một gia đình là tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô. Hoàn cảnh của cậu ta hoàn toàn thay đổi. Cậu rời nhà mình ở Đông Âu và đến sống ở miền đông Hoa Kỳ—một đất nước với gia đình, ngôn ngữ và cảm nghĩ mới. Vào ngày Chúa Nhật, gia đình mới của cậu đưa cậu đi đến lớp ấu nhi. Chính là ở nhà thờ, cuối hành lang, ở trong căn phòng lớp ấu nhi đó mà cậu đã có được cảm giác đó—khi cậu tiến đến việc biết về một sự an toàn và tình yêu thương mà cậu chưa hề cảm nhận trước đó. Đó là kinh nghiệm đầu tiên của cậu khi thật sự nhận biết Thánh Linh. Giờ đây, là một thiếu niên, thỉnh thoảng cậu chọn đi xuống cuối hành lang đến căn phòng lớp ấu nhi đó để nghe tiếng động, thấy quang cảnh, và cảm nhận Thánh Linh mà cậu đã từng cảm nhận ở nơi đó. Quang cảnh ở lớp ấu nhi đó trông tuyệt diệu biết bao đối với đứa trẻ đã đến đó để biết được Đức Thánh Linh.
Mặc Môn bảo chúng ta: “Nhờ sự nhu mì và sự khiêm tốn trong lòng nên mới có được sự viếng thăm của Đức Thánh Linh, là Đấng An Ủi đem lại niềm hy vọng và tình thương yêu trọn vẹn tràn đầy” (Mô Rô Ni 8:26).
Mặc Môn mô tả điều mà Đấng Cứu Rỗi cũng sẽ mô tả: “Ngươi sẽ nhận được Thánh Linh của ta, là Đức Thánh Linh, ngay cả là Đấng An Ủi, là Đấng sẽ dạy ngươi những điều bình an của vương quốc” (GLGƯ 36:2).
Trong sách An Ma, chúng ta học cách các con trai của Mô Si A đã tiến đến việc biết được Đức Thánh Linh như thế nào. Sách chép:
“Họ rất chuyên tâm tìm tòi thánh thư để có thể hiểu thấu được lời của Thượng Đế.
“Nhưng như vậy chưa phải là hết; họ đã hết lòng cầu nguyện và nhịn ăn” (An Ma 17:2–3).
Rồi họ đi ra giảng dạy. Đây là các thiếu niên bình thường đã có lòng can đảm phi thường nhờ vào Đức Thánh Linh và ước muốn để biết được lời của Thượng Đế.
Am Môn nói: “Một phần Thánh Linh đó đang ngự trị trong hạ thần khiến hạ thần có được sự hiểu biết và cũng có được quyền năng tùy theo đức tin và sự mong muốn của hạ thần hằng có nơi Thượng Đế” ( An Ma 18:35).
Cha của La Mô Ni đã cảm nhận được Thánh Linh qua những lời giảng dạy của A Rôn và nói: “Trẫm sẽ từ bỏ tất cả những gì trẫm có, phải, trẫm sẽ từ bỏ vương quốc của mình để trẫm có thể nhận được niềm vui lớn lao này” (An Ma 22:15).
Cả La Mô Ni lẫn cha của La Mô Ni đều cảm nhận được Đức Thánh Linh khi họ được giảng dạy về kế hoạch cứu rỗi. Những người truyền giáo ngày nay đầy dẫy Đức Thánh Linh, cũng giảng dạy cùng sứ điệp đó trên khắp thế gian. Đối với các em đã phục vụ truyền giáo: Các em còn nhớ đã cảm thấy được sức mạnh của Thánh Linh khi đứng lên làm chứng về lẽ trung thục của phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô không?
Một người truyền giáo trên đường đến phi trường đã nói: “Tôi rất sợ phải đi về nhà. Nếu tôi không cảm thấy được Thánh Linh mạnh mẽ như thế này sau khi tôi đi truyền giáo về thì sao?”
Tôi nói với em ấy: “Khi em mời Đức Thánh Linh vào trong cuộc sống của mình và sống xứng đáng với Đức Thánh Linh thì Đức Thánh Linh sẽ luôn luôn ở với em.”
2. Tiến Đến Việc Biết Được Lẽ Trung Thực của Sách Mặc Môn
Câu hỏi số 2: Làm thế nào tôi sẽ tiến đến việc biết được Sách Mặc Môn là chân chính?
Trong một buổi họp đặc biệt devotional ở BYU–Idaho vào tháng Sáu năm 2004, Anh Cả Clayton M. Christensen, một giáo sư của trường Harvard Business School, nói về quyết định ông đã chọn để biết xem Sách Mặc Môn có chân chính không. Sau khi tốt nghiệp trường BYU, ông đã nhận được một học bổng để theo học trường Oxford University ở nước Anh. Chính là lúc đó mà ông đã tiến đến việc kết luận rằng “[ông] còn không biết rằng Sách Mặc Môn là chân chính. [Ông] đã đọc Sách Mặc Môn, [đến lúc ấy] là được bảy lần trong đời mình, và mỗi lần trong số bảy lần đó, [ông] đều đọc đến cuối quyển sách và đã quỳ xuống để cầu nguyện và cầu xin Thượng Đế cho [ông] biết sách đó có chân chính không, và [ông] không nhận được câu trả lời nào cả. Khi suy nghĩ tại sao không nhận được câu trả lời nào, [ông] nhận biết rằng mỗi lần trong bảy lần trước đó, [ông] đã đọc theo yêu cầu của cha mẹ [ông] hoặc giảng viên ở trường BYU hay chủ tịch phái bộ truyền giáo hay một giảng viên lớp giáo lý của [ông], và mục tiêu của [ông] là đọc hết quyển sách. Nhưng lần này, [ông] đã hết sức tự mình muốn biết xem Sách Mặc Môn có chân chính không. Đến lúc đó trong cuộc đời, [ông] đã tự giúp mình về niềm tin trong nhiều giáo lý của Giáo Hội và trong sự tin cậy của cha mẹ [ông] vì [ông] biết rằng họ đã biết sách đó là chân chính, và [ông] đã tin cậy cha mẹ mình. Nhưng cuối cùng, khi [ông] đến Oxford, lần đầu tiên trong đời mình, [ông] đã hết sức muốn biết sách đó có chân chính không.”
Oxford là một trong số các trường đại học cổ xưa nhất. Ông sống trong một tòa nhà được xây cất vào năm 1410. Ông nói rằng “tòa nhà đó rất đẹp để nhìn ngắm, [nhưng] rất tệ hại nếu sống ở trong đó. Tòa nhà đó có một [khu vực] nhỏ nơi họ đào [một cái lỗ] từ bức tường đá và chèn vào đó [một cái máy sưởi]. [Ông] quyết định rằng mỗi đêm từ 11 giờ đến 12:00 giờ [ông] sẽ cam kết đọc Sách Mặc Môn để tìm hiểu xem sách ấy có chân chính không.” Ông nói rằng ông “đã tự hỏi là có dám dành ra nhiều thời giờ như thế không, vì [ông] đang theo học một chương trình học tập đòi hỏi khắt khe, học ngành toán kinh tế ứng dụng, và [ông] sẽ cố gắng hoàn tất chương trình trong vòng hai năm, trong khi hầu hết những người khác đều mất ba năm để hoàn tất chương trình và [ông] cũng không biết là [ông] có thể dành ra một giờ mỗi ngày cho nỗ lực này không. Nhưng [ông] đã làm được.” Ông “bắt đầu vào lúc 11 giờ bằng cách quỳ xuống cạnh chiếc ghế bên cái máy sưởi đó và [cầu nguyện] lớn tiếng. [Ông] thưa với Thượng Đế rằng [ông] cố gắng hết sức để biết được sách này có phải là chân chính không, và [ông] thưa với Ngài rằng nếu Ngài mặc khải cho [ông] biết rằng sách ấy là chân chính, thì [ông] sẽ dâng hiến cuộc đời của mình để xây đắp vương quốc của [Ngài]. Và [ông thưa với Chúa] rằng nếu sách ấy không chân chính thì [ông] cũng cần phải biết chắc chắn luôn, vì như vậy [ông] sẽ dâng hiến đời mình để tìm ra điều chân chính. Rồi [ông] ngồi vào chiếc ghế và … đọc trang đầu tiên của Sách Mặc Môn, [ông] đọc đến cuối trang sách, ngừng lại và suy nghĩ về điều [ông] đã đọc ở trên trang đó, và tự hỏi: ‘Có thể nào sách này do một kẻ bịp bợm viết để cố gắng lừa gạt người ta hay là sách này thật sự do một vị tiên tri của Thượng Đế viết ra? Và sách này [thật sự] có ý nghĩa gì đối với tôi trong cuộc sống?’ … Rồi [ông] đặt quyển sách xuống, quỳ xuống cầu nguyện vài thốt lên lời cầu xin Thượng Đế một lần nữa: ‘Xin làm ơn cho con biết nếu sách này là chân chính.’ Rồi [ông] ngồi xuống ghế và nhặt quyển sách lên, giở trang sau và đọc một trang nữa, ngừng lại ở cuối trang, và cũng làm giống như trước đó. [Ông] làm điều này trong một tiếng đồng hồ mỗi đêm, đêm này qua đêm khác, trong căn phòng lạnh lẽo, ẩm thấp của trường Queen’s College Oxford.
“Khi [ông] đọc đến các chương cuối sách 2 Nê Phi, một đêm nọ, khi [ông] dâng lời cầu nguyện, ngồi lên cái ghế và giở quyển sách ra, thì đột nhiên có Thánh Linh tuyệt vời, nồng nàn và trìu mến bao quanh [ông], xuyên thấu vào hồn [ông] và ôm [ông] trong một cảm giác yêu thương mà [ông] chưa bao giờ có thể cảm nhận được. Và [ông] bắt đầu khóc, và … không … ngừng khóc vì khi nhìn qua màn lệ những câu trong Sách Mặc Môn, [ông] có thể thấy được lẽ thật trong những câu [này] mà [ông] chưa bao giờ tưởng tượng là có thể thấu hiểu trước đấy. [Ông] có thể thấy được vinh quang vĩnh cửu và ông có thể thấy được điều mà Thượng Đế đã dành cho [ông] với tư cách là con trai của Ngài. [Ông] không muốn ngừng khóc. Thánh Linh đó ở với [ông] suốt một giờ đồng hồ, rồi mỗi đêm, khi [ông] cầu nguyện và ngồi đọc Sách Mặc Môn cạnh [cái máy sưởi] trong phòng [mình], thì cũng Thánh Linh đó trở lại và vĩnh viễn thay đổi tâm hồn cũng như cuộc sống của [ông].”
Giờ đây, ông nói, khi nhìn lại điều mâu thuẫn ông đã trải qua, ông “tự hỏi mình có thể dành ra một giờ đồng hồ mỗi ngày từ việc học của mình để biết được Sách Mặc Môn có chân chính không.” Ông nói rằng “trong tất cả việc học hành mà [ông] theo đuổi, đó là một phần kiến thức duy nhất và hữu ích nhất [ông] đã đạt được.”
Giờ đây, ông thích trở lại Oxford. Ông nói: “Hầu hết những người khác ở đó đều là sinh viên hoặc du khách đến để tham quan một ngôi trường đại học tuyệt đẹp.” Nhưng ông thích “trở lại đó vì [đó là] một nơi thiêng liêng, và [ông] có thể nhìn vào cửa sổ của căn phòng đó nơi [ông] đã sống,” và ông nghĩ: “Đó là nơi mà tôi biết được rằng Chúa Giê Su là Đấng Ky Tô, [và] rằng Ngài là Đấng Cứu Chuộc hằng sống của tôi, và Joseph Smith là vị tiên tri trong thời kỳ phục hồi của Giáo Hội chân chính.”
Anh Cả Christensen nói cùng các sinh viên tại trường BYU–Idaho: “Một số các em có lẽ đến đây từ Rexburg cũng đã tự mình biết rằng đây là Giáo Hội của Thượng Đế. Nhưng đối với các em nào có lẽ vẫn sống dựa trên chứng ngôn của người khác, tôi mời các em hãy dành ra một giờ đồng hồ mỗi ngày và tự mình tìm xem có phải sách này là chân chính không, vì sách này sẽ thay đổi tâm hồn các em vì sách này đã thay đổi tâm hồn của tôi.”3
Trong Giăng 5:39 chúng ta đọc: “Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy.”
Anh Cả Bruce C. Hafen nói: “Chúng ta có thể có được cuộc sống vĩnh cửu nếu muốn nhưng chỉ khi nào chúng ta không muốn bất cứ điều nào khác nữa.”4
Để tiến đến việc biết lẽ thật cần có nỗ lực. Và chúng ta càng nỗ lực thì phần thưởng càng lớn hơn. Mô Rô Ni nói: “Và khi nào các người nhận được những điều này, tôi khuyên nhủ các người hãy cầu vấn Thượng Đế, Đức Chúa Cha Vĩnh Cửu, trong danh Đấng Ky Tô, để xem những điều này có thật không; và nếu các người cầu vấn với một tấm lòng chân thành, với chủ ý thật sự cùng có đức tin nơi Đấng Ky Tô, thì Ngài sẽ biểu lộ lẽ thật của điều này cho các người biết, bởi quyền năng của Đức Thánh Linh” (Mô Rô Ni 10:4).
3. Tiến Đến Việc Biết Được Kế Họach của Cha Thiên Thượng
Câu hỏi số 3: Làm thế nào tôi sẽ tiến đến việc biết được kế hoạch của Cha Thiên Thượng dành riêng cho tôi?
Mỗi chúng ta đều lựa chọn con đường trở lại với Cha Thiên Thượng. Kế hoạch của Ngài dành cho chúng ta là kế hoạch hạnh phúc. Joseph Smith nói: “Hạnh phúc là mục tiêu và kế hoạch của cuộc sống chúng ta.”5 Cha Thiên Thượng muốn chúng ta cảm nhận niềm vui. Mỗi chúng ta vạch ra con đường riêng của mình. Chúng ta đều khác biệt. Cá tính, tài năng và các thuộc tính thể chất cũng như tình cảm của chúng ta đều khác nhau. Một số là do Thượng Đế ban cho. Đa số đến từ kỷ luật cá nhân. Ước muốn của chúng ta có thể chiến thắng yếu điểm của chúng ta.
Sau đây là một ví dụ: Một bé gái lớp hai bị chẩn đoán mắc bệnh trí nhớ bị khuyết tật thiếu khả năng học hỏi khi nhìn. Bác sĩ tâm lý ở trường nói: “Bởi vì thiếu trí nhớ nên em sẽ luôn luôn ở cuối lớp.” Cha mẹ của em ấy quyết định không nói cho em ấy biết về khuyết tật của nó. Trong việc cố gắng để chỉ được tiếp tục học, em phải siêng năng học để đạt được hầu hết những điều có thể đạt được dễ dàng. Xung quanh em đều là những người bạn tốt học giỏi trong trường. Điều đó góp phần cho nghị lực của em. Em phải mất thời gian lâu hơn để học bản cửu chương trong lớp ba và tên các thủ đô của Hoa Kỳ trong lớp năm. Em ghi danh học các lớp AP (trình độ cao) trong trường và tiếp tục tiến bộ. Việc em dành ra nhiều giờ đồng hồ để học là bằng chứng của lòng tận tụy của em. Ngày nay, em là y tá trong phòng chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân tim mạch. Và còn là một y tá rất giỏi nữa! Em và Cha Thiên Thượng đã có một kế hoạch.
Một câu chuyện khác: Cách đây khoảng một năm, tôi đến thăm một lớp học của các thiếu nữ. Người giảng viên yêu cầu chúng tôi viết xuống 10 điều ưu tiên của mình lên trên bản liệt kê. Tôi nhanh chóng bắt đầu viết. Tôi phải thú nhận rằng ý nghĩ đầu tiên của tôi bắt đầu với “Số 1: dọn dẹp hộc tủ đựng bút chì trong nhà bếp.” Khi bản liệt kê của chúng tôi được viết xong, người lãnh đạo Hội Thiếu Nữ yêu cầu tất cả chúng tôi chia sẻ điều chúng tôi đã viết. Ngồi cạnh tôi là em Abby, mới vừa được 12 tuổi. Đây là bản liệt kê của Abby:
-
1. Đi học đại học ở trường University of Utah.
-
2. Trở thành người thiết kế nội thất.
-
3. Đi truyền giáo ở Ấn Độ.
-
4. Kết hôn trong đền thờ với một người truyền giáo được giải nhiệm trở về nhà.
-
5. Có năm đứa con và một mái ấm gia đình.
-
6. Gửi con cái đi truyền giáo và cho chúng đi học đại học.
-
7. Trở thành bà nội hay bà ngoại luôn luôn cho cháu bánh.
-
8. Cưng chiều mấy đứa cháu.
-
9. Học hỏi thêm về phúc âm và vui hưởng cuộc sống.
-
10. Trở lại sống với Cha Thiên Thượng.
Các em có thể tưởng tượng nổi điều đó không! Tôi xin nói: “Cám ơn Abby đã dạy cho tôi biết về việc có được viễn cảnh về kế hoạch của Cha Thiên Thượng dành cho mỗi chúng ta.” Các em lập kế hoạch và hết sức sống theo kế hoạch đó. Ở đó sẽ có những khúc ngoặt. Các em có thể gặp phải một cây cầu ở đây, những khúc đường thỉnh thoảng bị chặn lại ở kia, hoặc các em có thể đi lang thang và bị lạc đường, nhưng các em đều có thể trở lại con đường.
Chủ Tịch Thomas S. Monson nói: “Nếu các em làm một điều mà không được như mình … hoạch định, thì dường như các em đều có thể sửa lại cho đúng.”6 Các em có thể nghĩ rằng sẽ không có con đường để trở lại. Kẻ nghịch thù mỉm cười trước ý nghĩ đó. Tôi cam đoan với các em rằng sẽ luôn có con đường để trở lại. Đấng Cứu Rỗi phán: “Tay ta vẫn đưa ra suốt ngày” (2 Nê Phi 28:32). Ngài phán: “Đây là công việc của ta và sự vinh quang của ta—là để mang lại sự bất diệt và cuộc sống vĩnh cửu cho loài người” (Môi Se 1:39). Tôi muốn nghĩ rằng Thượng Đế đang làm việc nhiều hơn chúng ta để mang chúng ta trở lại.
Thứ nhất, Ngài kỳ vọng chúng ta sẽ tìm ra vị thế của mình trong kế hoạch của Ngài và cố gắng hết sức để sống theo kế hoạch đó, bằng cách tuân theo các giáo lệnh và đứng vững tại những nơi thánh thiện. Nếu mục tiêu tột bậc của chúng ta là sự tôn cao, thì kế hoạch để đến đó sẽ bắt đầu tập trung vào mỗi quyết định của chúng ta. Chúng ta không cô đơn một mình. Ngài yêu thương chúng ta và Ngài biết rõ từng người chúng ta. Ngài tham gia vào các chi tiết chính yếu trong cuộc sống của chúng ta, và thỉnh thoảng khi bước đi trên con đường, chúng ta cảm thấy bàn tay nâng đỡ của Ngài ở sau lưng mình.
4. Tiến Đến Việc Biết Được Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử
Câu hỏi số 4: Làm sao tôi sẽ tiến đến việc biết Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử Yêu Dấu của Ngài?
Việc tiến đến việc biết Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử của Ngài là mục đích của cuộc sống chúng ta.
Đấng Cứu Rỗi đã cầu nguyện lên Đức Chúa Cha: “Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Chúa Giê Su Ky Tô, là Đấng Cha đã sai đến” (Giăng 17:3).
La Man và Lê Mu Ên “không hiểu những việc làm của Thượng Đế là Đấng đã sáng tạo ra họ.” (1 Nê Phi 2:12). C. S. Lewis nói: “Chừng nào ta còn kiêu ngạo thì ta không thể nào biết được Thượng Đế”7 Kẻ nghịch thù muốn chúng ta đừng tiến đến việc biết Thượng Đế. Nó cũng muốn chúng ta cứng lòng, hoang mang, bị bao quanh bởi tiếng động, điều xao lãng và bất cứ điều gì sẽ ngăn cản những giây phút yên tĩnh đó khi chúng ta đích thân tìm kiếm Chúa. Việc làm bất cứ điều gì một cách quá mức đều là một công cụ khác nữa của Sa Tan. Chỉ có chúng ta mới có thể tạo ra đủ thời giờ để biết Chúa.
Nếu khiêm nhường, biết tuân phục hoặc nhu mì, thì chúng ta đến được gần Ngài. Francis Webster, là người bước đi trên con đường mòn hoang vắng ở Wyoming với đoàn xe kéo tay Martin vào năm 1856 đã nói như sau để bênh vực cho nhóm người này: “Mỗi người chúng tôi bước đi với sự hiểu biết tuyệt đối rằng Thượng Đế hằng sống vì chúng tôi hết sức trở nên quen thuộc với Ngài”8
Chúng ta tiến đến việc biết Đấng Cứu Rỗi khi để cho Ngài bước vào cuộc sống của mình. Chúng ta nóng lòng tha thứ và sẵn lòng hơn để phục vụ khi Ngài là một phần trong cuộc sống của chúng ta. Khi tấm lòng của chúng ta mở rộng và dễ lãnh hội, thì chúng ta trở thành giống như Ngài hơn. Chính là lúc đó chúng ta khám phá ra rằng Ngài đã luôn luôn ở với chúng ta. Chúng ta được an lòng. Thử thách của chúng ta không còn là gánh nặng nữa, mà là phước lành vì những thử thách đó lót con đường dẫn chúng ta đến Ngài.
Phao Lô nói: “Chúng ta cũng khoe mình trong hoạn nạn nữa, vì biết rằng hoạn nạn sanh sự nhịn nhục,
“Sự nhịn nhục sanh sự rèn tập, sự rèn tập sanh sự trông cậy.
“Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” (Rô Ma 5:3–5).
C. S. Lewis nói đến những người đã tiến đến việc biết Đấng Ky Tô là “những người mới.” Ông nói: “Những người mới sống rải rác khắp nơi trên thế gian. … Thỉnh thoảng người ta gặp họ. Gương mặt và tiếng nói của họ khác với gương mặt và tiếng nói của chúng ta, mạnh mẽ hơn, trầm tĩnh hơn, vui vẻ hơn, hớn hở hơn. Họ bắt đầu nơi mà hầu hết chúng ta bỏ đi. … Họ không chú tâm đến mình. Các anh chị em có khuynh hướng nghĩ rằng mình phải tử tế với họ khi họ thật sự tử tế với các anh chị em. Họ yêu mến các anh chị em hơn những người khác yêu mến các anh chị em, nhưng họ ít cần các anh chị em hơn. … Họ dường như thường có nhiều thời giờ: và các anh chị em tự hỏi thời giờ đó ở đâu ra. …
“… Việc trở thành con người mới có nghĩa là đánh mất điều mà chúng ta hiện gọi là ‘cái tôi.’ Chúng ta cần phải bỏ đi cái tôi của mình để đến với Đấng Ky Tô. Ý muốn của Ngài sẽ trở thành ý muốn của chúng ta và chúng ta suy nghĩ giống như Ngài suy nghĩ.”9
Tiến Trình Tiến Đến Việc Biết Được Con Người của Mình
Tiến trình tuyệt diệu là tiến đến việc biết Đức Thánh Linh, tiến đến việc biết lẽ trung thực của Sách Mặc Môn, tiến đến việc biết kế hoạch của Cha Thiên Thượng dành cho mỗi chúng ta, cũng như tiến đến việc biết Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử.
Trong mỗi ước muốn để tiến đến việc biết được, đều có một mẫu mực. Các em có thể thấy được mẫu mực đó không?
Nê Phi định nghĩa mẫu mực đó khi ông nói: “Các anh không nhớ những điều Chúa đã phán bảo hay sao?—Nếu ngươi không chai đá trong lòng, và biết cầu vấn ta với đức tin, và tin tưởng rằng ngươi sẽ nhận được, cũng như biết chuyên tâm tuân giữ các lệnh truyền của ta, thì chắc chắn những điều này sẽ được tiết lộ cho ngươi biết” (1 Nê Phi 15:11).
Các em có thể thấy tiến trình đó không?
Nê Phi bảo cho chúng ta biết tiến trình đó gồm có:
-
• Lòng khiêm nhường.
-
• Cầu vấn với đức tin; mời xin Chúa giúp đỡ qua lời cầu nguyện.
-
• Chuyên tâm tuân giữ các lệnh truyền và làm theo ý Chúa.
-
• Nhận biết bàn tay của Chúa trong cuộc sống của mình. Điều này sẽ được tiết lộ cho các em biết bằng cách đó. Khi các em thấy được bàn tay của Ngài trong cuộc sống của mình, thì đó là sự xác nhận về tình yêu thương của Ngài. Các em càng nhận biết bàn tay của Ngài thì Ngài càng giúp đỡ nhiều hơn trong cuộc sống của các em. Đó là cách các em tiến đến việc biết Đấng Cứu Rỗi mình đã từng biết.
Những người ở dòng suối Mặc Môn tăng trưởng trong đức tin qua lời cầu nguyện. Bằng cách chuyên tâm, họ đã hành động và học cách tuân thủ ngày Sa Bát. Họ đã học cách lao nhọc với bàn tay của mình và phục vụ bằng cách san sẻ về vật chất lẫn tinh thần với những người khác. Các con trai của Mô Si A đã tra cứu thánh thư và dâng lòng mình để cầu nguyện và nhịn ăn. Họ cũng đã phải trả cái giá đòi hỏi để tiến đến việc biết được.
Tôi rất cảm kích trước việc Anh Cả Christensen đã cầu nguyện lớn tiếng và hứa với Chúa rằng nếu Ngài mặc khải cho ông biết về lẽ trung thực của Sách Mặc Môn, thì ông sẽ hiến dâng đời mình cho việc xây đắp vương quốc. Ông đã chuyên tâm và bằng cách hy sinh mỗi đêm của mình, ông đã tiến đến việc biết được.
Abby đã lập ra một kế hoạch, và em đã chuyên tâm sống theo kế hoạch đó. Mục tiêu của em để trở về nhà của Cha Thiên Thượng sẽ xác nhận những điều lựa chọn hằng ngày của em. Em đang tiến đến việc biết được rằng Chúa có một kế hoạch dành cho em.
Việc tiến đến việc tự mình biết là một điều riêng tư. Và chúng ta có thể trải qua “việc tiến đến việc biết” đó vô số lần trong cuộc sống của mình. Đó là tiến trình ghi nhớ điều chúng ta đã từng biết. Chỉ cần biết điều này: Các em quả thật biết Ngài, và nếu các em có thắc mắc không biết Ngài có biết các em không, thì hãy cầu vấn. Một bài ca của Hội Thiếu Nhi có tên là “A Child’s Prayer” bắt đầu như sau: “Hỡi Cha Thiên Thượng, Ngài có thật sự hiện diện không? Và Ngài có nghe và đáp ứng lời cầu nguyện của mỗi đứa trẻ không?”10 Tôi làm chứng là có đấy! Ngài có nghe và đáp ứng đấy! Chúa có thể giảng dạy cho chúng ta khi chúng ta cầu vấn. Hãy quỳ xuống và cầu nguyện và cầu vấn lớn: “Con có phải thật sự là con của Ngài không? Ngài có yêu thương con không?” Và rồi lắng nghe. Cầu vấn là một điều gì đó rất khiêm nhường. Cầu vấn là một hành động với đức tin.
Khi còn là một thiếu niên 14 tuổi ở một nơi xinh đẹp tại New York, trong thị trấn Palmyra, trong khu rừng cây, Joseph Smith đã cầu vấn với đức tin để tiến đến việc biết được. Ông nói: “Tôi đã trông thấy hai Nhân Vật, và hai vị đó đã thật sự ngỏ lời cùng tôi. … Tôi đã trông thấy một khải tượng; [và] tôi biết điều đó, và tôi biết là Thượng Đế biết như vậy, và tôi không thể phủ nhận được” (Joseph Smith—LỊch Sử 1:25). “Và giờ đây, sau bao nhiêu chứng ngôn mà đã được nói về Ngài, thì đây là chứng ngôn, gần đây nhất trong tất cả các chứng ngôn, mà chúng tôi nói về Ngài: Rằng Ngài hằng sống!” (GLGƯ 76:22).
Ở Giê Ru Sa Lem, tại ngôi mộ, vào cuối ngày Sa Bát khi trời bắt đầu rạng đông vào ngày đầu tuần, Ma Ri Ma Đơ Len và một người khác cũng tên Ma Ri đã được hai thiên sứ chào hỏi tại một nơi xinh đẹp trong khu vườn. Các thiên sứ nói:
“Các ngươi đừng sợ chi cả; vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Giê Su, là Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá.
“Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi” (xin xem Ma Thi Ơ 28:1–6, cước chú 2a, 3a, và 5a; từ Bản Dịch Joseph Smith).
Qua việc tiến đến để biết được Đấng Cứu Rỗi, Chúa Giê Su Ky Tô phục sinh, chúng ta tiến đến việc biết rằng nhờ vào Sự Chuộc Tội của Ngài, Ngài sẽ làm vơi đi tất cả nỗi đau đớn. Qua việc tiến đến để biết được Đấng Cứu Rỗi, Chúa Giê Su Ky Tô phục sinh, chúng ta tiến đến việc biết rằng nhờ vào Sự Chuộc Tội của Ngài, Ngài sẽ làm vơi đi tất cả nỗi đau đớn. Ngài mang đến sự trợ giúp và an ủi cho mọi nỗi lo âu. Ngài có thể vác gánh nặng của chúng ta và mang đến bình an cho mọi cảm nghĩ không xứng đáng và mọi ước muốn được thay đổi.
Chủ Tịch Ezra Taft Benson nói: “Không một điều gì làm cho chúng ta hốt hoảng khi chúng ta bước qua bức màn che này để đến bên kia hơn là việc biết được rằng chúng ta biết rõ Đức Chúa Cha như thế nào và quen thuộc ra sao với gương mặt của Ngài”11 Chúng ta quả thật biết Ngài!
Ngôi trường Utah State University này đây là dòng suối Mặc Môn của tôi. Khuôn viên đại học này thật tuyệt mỹ trong mắt tôi, vì chính nơi đây tôi đã bắt đầu tiến đến việc biết Đấng Cứu Chuộc của tôi. Tôi hãnh diện đứng làm nhân chứng cho Cha Thiên Thượng và Đấng Cứu Rỗi. Qua quyền năng của Đức Thánh Linh, tôi biết rằng hai Ngài hằng sống. Các em thật là độc đáo và quý báu đối với hai Ngài. Các em đã từng biết rõ hai Ngài trước khi đến thế gian này. Các em hãy bám chặt khi bước đi trên con đường. Vòng tay của Cha Thiên Thượng đang chờ đợi các em. Tôi yêu mến các em. Tôi cầu nguyện cho các em là con cái của Ngài. Trong tôn danh của Chúa Giê Su Ky Tô, A Men.
© 2011 do Intellectual Reserve, Inc. Giữ mọi bản quyền. Bản Anh ngữ chuẩn nhận: 5/11. Bản dịch chuẩn nhận: 05/11. Bản dịch Coming to Know. Vietnamese. PD50031652 435
Notes
3. Clayton M. Christensen, “Decisions for Which I’ve Been Grateful” (Buổi họp đặc biệt devotional tại trường Brigham Young University–Idaho, ngày 8 tháng Sáu năm 2004), http://www.byui.edu/Presentations/Transcripts/Devotionals/2004_06_08_Christensen.htm.
4. Bruce C. Hafen, trong Conference Report, tháng Tư năm 2004, 101; hoặc Ensign, tháng Năm năm 2004, 98; chữ nghiêng trong nguyên bản.
6. Thomas S. Monson, “Joy in the Journey,” in Awake, Arise, and Come unto Christ: Bài nói chuyện từ Đại Hội Phụ Nữ tại trường BYU năm 2008 (2009), 3.
8. Francis Webster, được Gordon B. Hinckley trích dẫn, trong Conference Report, tháng Mười năm 1991, 77; hoặc Ensign, tháng Mười Một năm 1991, 54.