Hãy Giúp Họ Đặt Mục Tiêu Cao

Bài của Chủ Tịch Henry B. Eyring

Đệ Nhất Cố vấn trong Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn


Với sự hướng dẫn của các anh em, những người được các anh em lãnh đạo sẽ có thể thấy, mong muốn và tin rằng họ có thể hoàn thành tiềm năng trọn vẹn của mình để phục vụ trong vương quốc của Thượng Đế.

Tôi rất biết ơn về cơ hội được hiện diện trong buổi họp chức tư tế vĩ đại này, để được nghe lời giảng dạy và chứng ngôn tuyệt vời như vậy. Điều này làm cho tôi nghĩ tới kinh nghiệm riêng của mình. Hầu như mọi điều tôi đã có thể hoàn thành được với tư cách là người mang chức tư tế là nhờ vào những người đã biết tôi và thấy những điều nơi tôi mà tôi không thể thấy.

Khi còn là một người cha trẻ tuổi, tôi đã cầu nguyện để biết được con cái tôi có thể đóng góp được điều gì trong vương quốc của Chúa. Đối với mấy đứa con trai, tôi biết rằng chúng có thể có các cơ hội của chức tư tế. Đối với mấy đứa con gái, tôi biết rằng chúng sẽ phục vụ đại diện cho Chúa. Tất cả chúng sẽ làm công việc của Ngài. Tôi biết mỗi đứa con là một cá nhân, và do đó Chúa sẽ ban cho chúng các ân tứ riêng biệt để mỗi đứa sử dụng trong sự phục vụ Ngài.

Giờ đây, tôi không thể nói với mỗi người cha và mỗi người lãnh đạo của giới trẻ chi tiết về điều gì là tốt nhất cho các anh em để làm. Nhưng tôi có thể hứa rằng các anh em sẽ ban phước cho họ để giúp họ nhận ra các ân tứ thuộc linh mà họ vốn đã có từ lúc bẩm sinh. Không một ai đã được trù tính từ trước là sẽ thất bại. Khi tìm kiếm sự mặc khải để thấy được các ân tứ mà Thượng Đế thấy nơi những người mà các anh em lãnh đạo trong chức tư tế—đặc biệt là giới trẻ—thì các anh em sẽ được ban phước để hướng dẫn họ đến sự phục vụ họ có thể thực hiện được. Với sự hướng dẫn của các anh em, những người được các anh em lãnh đạo sẽ có thể thấy, mong muốn và tin rằng họ có thể hoàn thành tiềm năng trọn vẹn của mình để phục vụ trong vương quốc của Thượng Đế.

Tôi đã cầu nguyện với con cái tôi để nhận được sự mặc khải để có thể biết cách giúp mỗi đứa chuẩn bị cho các cơ hội riêng trong việc phục vụ Thượng Đế. Và rồi sau đó, tôi cố gắng giúp chúng hình dung, hy vọng và làm việc cho tương lai đó. Tôi khắc một tấm bảng cho mỗi đứa con trai với câu trích dẫn từ thánh thư mô tả các ân tứ đặc biệt của nó và một tấm hình tượng trưng cho ân tứ này. Ở bên dưới tấm hình và câu trích dẫn đó, tôi khắc ngày tháng lễ báp têm và lễ sắc phong chức phẩm của chức tư tế của mỗi đứa con trai, với chiều cao của nó vào ngày xảy ra mỗi sự kiện.

Tôi sẽ mô tả những tấm bảng tôi đã khắc cho mỗi đứa con trai để giúp nó thấy được các ân tứ thuộc linh và điều nó có thể đóng góp vào công việc của Chúa. Các anh em có thể được soi dẫn để nhận ra giống như tôi về các ân tứ riêng biệt và các cơ hội duy nhất cho mỗi đứa con mà các anh em yêu thương và hướng dẫn.

Khi đứa con trai đầu lòng của tôi trở thành thầy trợ tế và một Hướng Đạo Sinh Chim Ưng, thì một tấm hình con chim ưng đến với tâm trí tôi khi tôi nghĩ về nó và tương lai của nó. Chúng tôi đang sống ở Idaho gần dưới chân núi South Teton, ở đó chúng tôi đi bộ đường dài với nhau và nhìn các con chim ưng bay cao. Hình ảnh ấy trong tâm trí tôi mang đến cho tôi cảm nghĩ về những lời của Ê Sai:

“Ngài ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn, thêm lực lượng cho kẻ chẳng có sức.

“Những kẻ trai trẻ cũng phải mòn mỏi mệt nhọc, người trai tráng cũng phải vấp ngã:

“Nhưng ai trông đợi Đức Giê Hô Va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi.”1

Quả thật, với đứa con đầu lòng đó, chúng tôi đã dừng chân dưới đỉnh núi South Teton vì con trai tôi bắt đầu mệt mỏi. Nó muốn dừng lại. Nó nói: “Con có sẽ luôn luôn cảm thấy hối tiếc vì chúng ta đã không thể đi tới đỉnh núi không? Cha cứ tiếp tục đi đi—Con không muốn cha phải thất vọng.”

Tôi đáp: “Cha sẽ không bao giờ thất vọng, và con sẽ không bao giờ cảm thấy hối tiếc. Chúng ta sẽ luôn luôn nhớ rằng mình đã trèo lên đây với nhau.” Ở trên đầu tấm bảng của nó, tôi khắc hình một con chim ưng và câu chú giải “Trên Đôi Cánh Chim Ưng.”

Trong những năm với tư cách là người truyền giáo, con trai của tôi đã bay cao hơn là tôi đã tưởng tượng ra trong niềm hy vọng trìu mến nhất của tôi. Trong những thử thách ở nơi truyền giáo, một số những gì mà nó trải qua dường như đều vượt quá khả năng của nó. Điều đó có thể hữu hiệu đối với một thiếu niên các anh em đang giúp đỡ, như trong trường hợp của con trai tôi, Chúa đã nâng nó lên cao hơn trong việc thuyết giảng phúc âm bằng một ngôn ngữ khó hơn là tôi nghĩ nó có thể làm được. Nếu các anh em thử đối với bất cứ thiếu niên nào để ý thức được những khả năng của chức tư tế của em ấy, thì tôi hứa với các anh em rằng Chúa sẽ cho các anh em biết càng nhiều thêm khi các anh em cần. Thiếu niên ấy có thể có được tiềm năng còn vượt quá điều Chúa sẽ mặc khải cho các anh em. Hãy giúp em ấy đặt mục tiêu cao.

Người thiếu niên mà các anh em khuyến khích có thể dường như quá nhút nhát để làm một tôi tớ vững mạnh có chức tư tế. Một trong mấy đứa con trai của tôi rất nhút nhát khi còn nhỏ đến nỗi nó còn không chịu bước vào một cửa tiệm và nói chuyện với người bán hàng. Nó quá sợ hãi. Tôi lo lắng trong khi cầu nguyện cho chức tư tế của nó trong tương lai. Tôi nghĩ về nó đang đi truyền giáo—điều đó không được triển vọng lắm. Tôi được hướng dẫn đến một câu thánh thư trong sách Châm Ngôn: “Kẻ ác chạy trốn dầu không ai đuổi theo; Nhưng người công bình mãnh dõng như một sư tử.”2

Tôi khắc câu “Mãnh Dõng như một Sư Tử” lên tấm bảng của nó, bên dưới tấm hình cái đầu rất to của một con sư tử đang gầm. Trong khi phục vụ truyền giáo và trong những năm tiếp theo, nó đã làm tròn hy vọng của tôi khi khắc những điều đó lên trên tấm bảng của nó. Đứa con trai đã từng nhút nhát của tôi đã thuyết giảng phúc âm với lòng tin chắc và dũng cảm đương đầu với những hiểm nguy. Nó được hỗ trợ trong các trách nhiệm của nó để đại diện cho Chúa.

Điều đó có thể xảy ra cho em thiếu niên các anh em đang hướng dẫn. Các anh em cần phải xây đắp đức tin của em ấy rằng Chúa có thể thay đổi em ấy thành một tôi tớ dũng cảm hơn là em thiếu niên nhút nhát mà các anh em thấy bây giờ.

Chúng ta biết là Chúa làm cho các tôi tớ của Ngài được dũng cảm. Thiếu niên Joseph là người trông thấy Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử của Ngài, Chúa Giê Su Ky Tô, trong một khu rừng cây đã được thay đổi thành một người đàn ông mạnh mẽ về phần thuộc linh. Parley P. Pratt đã nhìn thấy điều đó khi Tiên Tri Joseph Smith khiển trách các tên lính canh tà ác đang giam giữ họ. Anh Cả Pratt ghi lại:

“Thình lình, ông đứng lên và bằng một tiếng nói như sấm sét, hoặc tiếng gầm của sư tử, la lên những lời sau đây mà tôi có thể nhớ được hầu hết:

“‘HÃY IM ĐI, các người là bạn của ngục giới. Trong danh của Chúa Giê Su Ky Tô, ta khiển trách các người, và truyền lệnh cho các người phải im đi; Ta sẽ không sống thêm một giây phút nào nữa để nghe lời lẽ như vậy. Hãy ngừng nói điều như vậy, hoặc các người chết hoặc ta chết NGAY BÂY GIỜ!’”

Anh Cả Pratt viết về kinh nghiệm đó: “Tôi chỉ một lần thấy phẩm giá và vẻ uy nghi khi anh ấy bị xiềng xích vào lúc nửa đêm trong ngục tối tại một ngôi làng ít người biết đến ở Missouri.”3

Chúa sẽ ban cho các tôi tớ ngay chính của Ngài cơ hội để được dũng mãnh như sư tử, khi họ nói trong danh Ngài và với tư cách là nhân chứng trong chức tư tế của Ngài.

Một đứa con trai khác của tôi, ngay cả từ khi còn niên thiếu, đã có đông bạn bè muốn chơi với nó. Nó kết bạn rất dễ dàng. Trong khi cầu nguyện và cố gắng đoán trước sự đóng góp của nó trong vương quốc của Thượng Đế, thì tôi cảm thấy rằng nó sẽ có khả năng để mang những người khác lại với nhau trong tình yêu thương và đoàn kết.

Điều đó dẫn tôi đến câu chuyện trong sách Giáo Lý và Giao Uớc mô tả về các nỗ lực của các anh cả nắm giữ chức tư tế để xây dựng Si Ôn ở Missouri trong lời ngợi khen của thiên thần đã nhìn thấy những nỗ lực và đóng góp của họ. Điều đó đòi hỏi nhiều hy sinh. Điều mặc khải trong Giáo Lý và Giao Uớc có ghi: “Tuy nhiên, các ngươi vẫn được phước, vì chứng ngôn mà các ngươi đã chia sẻ được ghi chép trên trời để các thiên sứ được thấy; và họ vui mừng vì các ngươi, và tội lỗi của các ngươi được tha.”4

Dọc trên tấm bảng của con trai tôi, tôi khắc câu “Các Thiên Sứ Vui Mừng Vì Ngươi.”

Khả năng tột bậc của đứa con trai này để quy tụ và mang đến ảnh hưởng cho những người khác kéo dài đến sau cả những năm học trong trường của nó. Với những người cùng nắm giữ chức tư tế, nó tổ chức các buổi sinh hoạt của giáo khu làm cho giới trẻ trong khu vực của nó đức tin để chịu đựng và thậm chí còn chiến thắng trong những tình huống khó khăn. Khi xây đắp đức tin nơi các thiếu niên và các thiếu nữ này, nó đã giúp xây dựng các nhóm nhỏ các tín hữu trung thành của Si Ôn trong các trung tâm đô thị của Châu Mỹ. Tôi đã khắc hình các thiên sứ thổi kèn, mà có lẽ không chính xác với cách họ làm việc đó, nhưng khắc hình một cái kèn thì dễ làm hơn là reo hò.

Các thiên sứ vui mừng khi các vị lãnh đạo chức tư tế trên khắp thế giới xây dựng Si Ôn trong tiểu giáo khu, giáo khu và phái bộ truyền giáo của họ. Và họ sẽ vui mừng trước việc các thiếu niên và thiếu nữ mà các anh em giúp xây dựng Si Ôn dù họ đang ở đâu và có thể ở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Si Ôn là kết quả của những người đoàn kết qua giao ước và tình yêu thương. Tôi xin mời các anh em giúp giới trẻ của mình cùng tham gia.

Đối với một trong mấy đứa con trai tôi, tôi đã được thúc giục để khắc hình mặt trời—đó là mặt trời trên bầu trời—và những câu từ Lời Cầu Nguyện Thay của Đấng Cứu Rỗi: “Sự Sống Đời Đời.” Gần cuối giáo vụ trên trần thế của Ngài, Đấng Cứu Rỗi đã cầu nguyện lên Cha Ngài:

“Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Chúa Giê Su Ky Tô, là Đấng Cha đã sai đến.

“Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm.”5

Con trai của tôi được giao cho công việc phục vụ chức tư tế trên ba lục địa, nhưng quan trọng nhất là trong nhà và gia đình của nó. Nó đã xây đắp cuộc sống của nó xung quanh họ. Nó làm việc gần nhà, và thường trở về nhà vào giờ ăn trưa với vợ và con cái còn nhỏ của nó. Gia đình của nó sống gần nhà của Chị Eyring và tôi. Chúng chăm sóc sân vườn của chúng tôi chẳng khác gì sân vườn của chúng. Đứa con trai này không những sống để hội đủ điều kiện cho cuộc sống vĩnh cửu mà còn sống vĩnh viễn ở giữa những người trong gia đình là những người biết ơn nó và được nó quy tụ quanh mình.

Cuộc sống vĩnh cửu là sống trong tình đoàn kết trong gia đình, với Đức Chúa Cha, Vị Nam Tử và Đức Thánh Linh. Cuộc sống vĩnh cửu chỉ có thể có được nhờ vào các chìa khóa của chức tư tế của Thượng Đế, mà đã được phục hồi qua Tiên Tri Joseph Smith. Việc khuyến khích giới trẻ các anh em lãnh đạo đặt cuộc sống vĩnh cửu làm mục tiêu vĩnh cửu là một món quà quý báu mà các anh em có thể tặng cho họ. Các anh em sẽ làm điều đó chủ yếu qua tấm gương trong gia đình mình. Những người các anh em lãnh đạo có thể không có gia đình trong Giáo Hội, nhưng tôi yêu cầu các anh em hãy giúp họ cảm nhận và muốn có tình yêu thương của gia đình ở cả hai bên bức màn che.

Chiều cao của các tấm bảng tôi vừa mô tả chỉ là một cách để giúp những người trẻ tuổi có một ý niệm về tính chất vĩ đại mà Thượng Đế thấy ở họ và tương lai cùng sự phục vụ duy nhất Ngài đã chuẩn bị cho họ để thực hiện. Ngài sẽ giúp các anh em thấy cách làm điều đó cho con cái của các anh em hoặc cho những người trẻ tuổi khác mà các anh em hướng dẫn. Nhưng khi thành tâm tìm cách tự mình hiểu được tương lai này, và truyền đạt điều đó riêng với mỗi người trẻ tuổi, các anh em sẽ bắt đầu biết rằng Thượng Đế yêu thương từng người con của Ngài và thấy được các ân tứ lớn lao và độc nhất đối với mỗi người họ.

Là người cha, tôi được phước để thấy tương lai sáng lạn trong vương quốc của Thượng Đế cho các con gái cũng như các con trai của tôi. Khi thành tâm tìm kiếm sự hướng dẫn, tôi đã được cho thấy cách giúp đỡ các con gái của mình nhận ra sự tin cậy Thượng Đế đã đặt nơi chúng, là các tôi tớ có thể xây đắp vương quốc của Ngài.

Khi các con gái của tôi còn nhỏ, tôi đã thấy rằng chúng tôi có thể giúp những người khác cảm nhận được tình yêu thương của những người đã qua đời, qua các thế hệ. Tôi biết rằng tình yêu thương đến từ sự phục vụ và soi dẫn niềm hy vọng về cuộc sống vĩnh cửu.

Vậy nên, chúng tôi đã khắc một tấm thớt để cắt bánh mì, trên đó chúng tôi đặt một ổ bánh mì làm ở nhà và cùng nhau mang đến tặng cho những người góa bụa và các gia đình. Trên mỗi tấm thớt đó tôi khắc một câu tiếng Pháp: “J’aime et J’espere,” có nghĩa là “Tôi yêu thương và tôi hy vọng.” Bằng chứng của các ân tứ thuộc linh độc đáo không những hiện ra trên các tấm thớt tôi đã khắc chữ mà còn rõ ràng hơn khi chúng tôi mang tặng chúng cho những người đang thiếu thốn, là những người cảm thấy đau đớn hay mất mát, để cam đoan một lần nữa rằng tình yêu thương của Đấng Cứu Rỗi và Sự Chuộc Tội của Ngài có thể nảy sinh một niềm hy vọng hết sức sáng lạn. Đây là cuộc sống vĩnh cửu dành cho các con gái của tôi và cho mỗi người chúng ta.

Giờ đây, các anh em có thể nghĩ rằng: “Thưa Anh Eyring, có phải anh đang nói rằng tôi cần phải học cách chạm trổ phải không?” Câu trả lời là không. Tôi học cách khắc các tấm bảng với sự giúp đỡ của một người thầy nhân từ và có tài, vào lúc ấy là Anh Cả Boyd K. Packer. Kỹ năng tôi học được không thấm vào đâu so với ân tứ lớn lao của ông là một người chạm khắc và lòng kiên nhẫn của ông với tư cách là một người thầy. Chỉ có thiên thượng mới có thể ban cho một người thầy như Chủ Tịch Packer vậy. Nhưng các anh em có thể ảnh hưởng đến tấm lòng của con cái mình bằng nhiều cách mà không cần phải khắc các tấm bảng gỗ hoặc các tấm bảng đo chiều cao cho chúng.

Ví dụ, những kỹ thuật truyền đạt mới mẻ cho phép chia sẻ những sứ điệp về đức tin và hy vọng dù ở rất xa nhau nhiều dặm, trong khoảnh khắc và không tốn kém. Vợ tôi giúp tôi làm việc này. Chúng tôi bắt đầu bằng cách nói chuyện trên điện thoại với các cháu hay các con của mình mà chúng tôi có thể nói được. Chúng tôi yêu cầu chúng chia sẻ những câu chuyện về sự thành công cá nhân và sự phục vụ của chúng. Chúng tôi cũng mời chúng gửi hình của các sinh hoạt đó. Chúng tôi sử dụng các tấm hình đó để minh họa cho một vài đoạn văn. Chúng tôi thêm vào một hoặc hai câu từ Sách Mặc Môn. Có lẽ Nê Phi và Mặc Môn sẽ không cảm kích lắm trước phẩm chất thuộc linh của nội dung của chúng tôi hoặc nỗ lực giới hạn cần thiết để tạo ra cái mà chúng tôi gọi là “Nhật Ký Gia Đình: Các Bảng Khắc Nhỏ.” Nhưng Chị Eyring và tôi được ban phước nhờ nỗ lực đó. Chúng tôi cảm thấy được soi dẫn trong việc chọn ra các đoạn thánh thư và các sứ điệp ngắn về chứng ngôn chúng tôi viết xuống. Và chúng tôi thấy rõ ràng trong cuộc sống của chúng tấm lòng hướng tới chúng tôi và Đấng Cứu Rỗi và hướng lên trên.

Có những cách khác để tạo ra ảnh hưởng; các anh em đã tham gia vào nhiều cách đó rồi. Thói quen cầu nguyện và đọc thánh thư chung gia đình sẽ tạo ra những kỷ niệm dài lâu và những thay đổi mạnh mẽ trong lòng hơn các anh em có thể biết được bây giờ. Điều đó cũng hiển nhiên ngay cả trong những sinh hoạt thế tục, chẳng hạn như tham dự một trận đấu thể thao hoặc xem một cuốn phim, cũng có thể ảnh hưởng đến tâm hồn của một đứa trẻ. Điều quan trọng không phải là buổi sinh hoạt mà là những cảm nghĩ có được khi các anh em làm điều đó. Tôi đã khám phá ra rằng một thử nghiệm tốt để nhận ra các sinh hoạt có khuynh hướng tạo ra một sự khác biệt lớn trong cuộc sống của một người trẻ tuổi. Đó là sinh hoạt mà những người trẻ tuổi cảm thấy thích thú, là điều đến với họ như là một sự ban cho từ Thượng Đế. Tôi biết điều đó có thể thực hiện được từ kinh nghiệm riêng của tôi.

Khi trở thành một thầy trợ tế 12 tuổi, tôi sống ở New Jersey, cách New York City 80 kilômét. Tôi mơ ước được làm một cầu thủ bóng chày tài giỏi. Cha tôi đồng ý dẫn tôi đi xem một trận đấu ở Sân Vận Động Yankee lịch sử và cổ xưa ở Bronx. Tôi vẫn còn có thể nhớ lúc Joe DiMaggio tung chày lên và đánh trúng mục tiêu vào giữa sân trong khi tôi ngồi cạnh cha tôi, đó là lần duy nhất chúng tôi cùng nhau đi xem trận đấu bóng chày của một đội bóng chày chuyên nghiệp có tầm cỡ.

Nhưng một dịp khác với cha tôi đã ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi vĩnh viễn. Ông dẫn tôi đi từ New Jersey đến nhà của một vị tộc trưởng đã được sắc phong ở Salt Lake City. Tôi chưa từng thấy vị này trước đó. Cha tôi để tôi ở lại trước ngưỡng cửa. Vị tộc trưởng dẫn tôi đến một cái ghế, đặt tay ông lên đầu tôi và tuyên bố một phước lành với tính cách là một ân tứ từ Thượng Đế gồm có lời tuyên bố về ước muốn lớn nhất của lòng tôi.

Ông nói rằng tôi là một trong số những người được nói là “Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận.”6 Tôi rất ngạc nhiên trước việc một người hoàn toàn xa lạ đã có thể biết được lòng tôi nên tôi đã mở mắt ra nhìn căn phòng nơi đã xảy ra một phép lạ. Phước lành đó về khả năng của tôi đã ảnh hưởng đến cuộc sống, hôn nhân và sự phục vụ chức tư tế của tôi.

Tôi có thể làm chứng từ kinh nghiệm đó và điều đã xảy ra sau đó rằng: “Vì không phải ai cũng đều được ban cho mọi ân tứ; vì có nhiều ân tứ, và mỗi người được Thánh Linh của Thượng Đế ban cho một ân tứ.”7

Vì Chúa mặc khải cho tôi một ân tứ nên tôi đã có thể nhận ra và chuẩn bị cơ hội để sử dụng ân tứ đó nhằm mục đích ban phước cho những người tôi yêu thương và phục vụ.

Thượng Đế biết các ân tứ của chúng ta. Tôi yêu cầu các anh em cũng tự yêu cầu mình nên cầu nguyện để biết được mình đã được ban cho ân tứ gì, để biết cách phát huy các ân tứ này và nhận ra cơ hội để phục vụ những người khác mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta. Hơn hết, tôi cầu nguyện rằng các anh em sẽ được soi dẫn để giúp những người khác khám phá ra các ân tứ đặc biệt của họ từ Thượng Đế để phục vụ.

Tôi hứa với các anh em rằng nếu cầu xin, thì các anh em sẽ được ban phước để giúp đỡ và nâng đỡ những người khác lên đến tiềm năng trọn vẹn của họ trong việc phục vụ những người mà họ lãnh đạo và yêu thương. Tôi làm chứng với các anh em rằng Thượng Đế hằng sống, Chúa Giê Su là Đấng Ky Tô, đây là chức tư tế của Thượng Đế, mà chúng ta nắm giữ, và Thượng Đế đã chuẩn bị cho chúng ta với các ân tứ đặc biệt để phục vụ Ngài mà vượt quá niềm hy vọng yêu quý nhất của chúng ta. Trong tôn danh của Chúa Giê Su Ky Tô, A Men.

Mostrar referencias

  1.  

    1.  Ê Sai 40:29–31.

  2.  

    2.  Châm Ngôn 28:1.

  3.  

    3.  Tự truyện của Parley P. Pratt, do Parley P. Pratt Jr. xuất bản (1938), 211.

  4.  

    4.  Giáo Lý và Giao Ước 62:3.

  5.  

    5.  Giăng 17:3–4.

  6.  

    6.  Ma Thi Ơ 5:9.

  7.  

    7.  Giáo Lý và Giao Ước 46:11.